Ví dụ như với nhân dân Mỹ, có lẽ cuộc nội chiến Mỹ có ý nghĩa thực tế với tất cả mọi người nên ai cũng biết đôi điều về lịch sử của nó. Bản thân sử gia chịu ràng buộc bởi một quan niệm hay tiêu chuẩn nào đó về tính chính xác cũng như sự tồn tại của những sự kiện. Các câu trả lời muôn hình muôn vẻ và liên quan chặt chẽ đến nhau tạo thành cuộc tranh luận chung về sự tiến bộ.
Để thống nhất các thuật ngữ với tác giả, dộc giả phải tìm ra các từ khoá các từ quan trọng trong cuốn sách. Lúc này, nỗ lực đầu tiên của chúng ta là phải xác định các từ được dùng. Người ta đã chỉ ra rằng, khả năng này bắt đầu xuất hiện từ lúc trẻ ra đời, và thường tiếp diễn đến khi trẻ lên sáu hay bảy tuổi.
Giả sử, nếu một tác giả yêu cầu bạn coi một điều gì đó là hiển nhiên, bạn nên trân trọng đề nghị của ông ta ngay cả khi biết trong thực tế, một quan điểm đối lập với điều đó cũng có thể coi là điều hiển nhiên. Ví dụ, nếu bạn nói mọi người đều bình đẳng, chúng tôi có thể nghĩ là bạn cho rằng khi sinh ra, ai cũng được tạo hoá ban cho trí thông minh, sức khoẻ và những khả năng khác hoàn toàn như nhau. Điều đáng buồn là mặc dù nhiều người có thể phân biệt được sự khác nhau giữa lợi ích và giải trí khi đọc sách nhưng vẫn không thể thực hiện được kế hoạch đọc của mình.
Trong trường hợp tác giả đưa ra một lập luận với mong muốn độc giả lập luận trở lại, thì một độc giả có năng lực cần phải biết các quy tắc lập luận. Độc giả phải hỏi cùng một loại câu hỏi: Mục đích của tác giả là gì? Những tiêu chuẩn đánh giá sự thật của tác giả là gì? Và tất nhiên, chúng ta cũng phải hỏi cả những câu mà chúng ta vẫn đặt ra với bất cứ cuốn sách nào. Sẽ là sai lầm khi coi việc tiếp nhận thông tin giống như bị một cái tát, hoặc nhận một gia sản hay một lời phán quyết của toà án.
Bạn phải biết câu hỏi mình đặt ra thuộc loại nào và loại sách tham khảo nào có thể trả lời câu hỏi dạng đó. Chúng xuất hiện khi người viết muốn tránh tình trạng mập mờ về nghĩa, và người đọc cố hiểu từ đó theo đúng ý người viết đã dùng. Ở thời hiện đại, cũng có những bài phê bình dài tương tự, ví dụ như những bài bình nổi tiếng về tác phẩm Critique of Pure Reason (Bàn về lý trí đơn thuần) của Kant; hoặc như một ấn bản chú giải về một vở kịch của Shakespeare bao gồm một khung dàn ý cụ thể đến từng chi tiết và nhiều thứ khác nữa, dài hơn vở kịch cả chục lần.
Hãy so sánh mục lục hai cuốn sách với nhau, bạn sẽ thấy những điểm mới, điểm khác biệt giữa chúng. Khi xã hội là một tính từ, nó cũng có nhiều nghĩa và đa phần các nghĩa đều quen thuộc như quyền lực xã hội, áp lực xã hội, cam kết xã hội hay những vấn đề xã hội. Một người có thể vừa phản đối vừa đồng ý về vấn đề nào đó.
Những người coi hội thoại là một cuộc chiến đấu chỉ có thể giành phần thắng bằng cách đóng vai kẻ phản đối - phản đối đến cùng bất kể đúng sai. Thucydides đã nói rằng ông ta viết câu chuyện lịch sử đó để con người tương lai không mắc lại lỗi lầm mà con người ở thời ông mắc phải, cũng như để nhân loại không phải gánh chịu những hậu quả mà cá nhân ông đã phải chịu đựng cùng sự đau đớn của đất nước quê hương ông. Bạn chỉ mệt mỏi vì thất vọng nếu cố gắng của bạn bị thất bại do thiếu kỹ năng.
Vì thế, khi bạn đã khám phá ra vở kịch nói về điều gì và trả lời được các câu thường hỏi khi đọc sách, bạn hãy cố gắng để đạo diễn vở kịch. Ngôn ngữ thể hiện các thuật ngữ, định lý và phương trình toán học thường không hàm chứa ý nghĩa về cảm xúc. Có nhiều công cụ giúp mắt không dừng lâu ở một chỗ.
Phủ nhận việc trình bày một ý tưởng theo nhiều cách cũng giống như nói rằng không thể dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia. Triết học phải giải thích bản chất của sự việc chứ không phải mô tả như khoa học. Được mở mang tầm hiểu biết là biết thêm bản chất vấn đề: tại sao đúng, tại sao sai, những mối quan hệ của vấn đề với các dữ liệu khác,…
Trong cùng một cuốn sách có thể thấy cả nguyên tắc và quy tắc. Chúng tôi sẽ quay lại cấp độ này trong Chương 4 để chỉ ra việc đọc kiểm soát đóng vai trò quan trọng như thế nào trong đọc đồng chủ đề - cấp độ đọc thứ tư và cũng là cao nhất. Chúng có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng trí óc của ta hoạt động vì chúng yêu cầu ta phản ứng trước những kích thích từ bên ngoài.