Richards đã viết một loạt chuyên luận với tiêu đề How to read a page (Cách đọc một trang sách). Ngủ gật hay để đầu óc vẩn vơ trong suốt thời gian bạn định dành cho việc đọc nhằm mở rộng hiểu biết, nghĩa là bạn đã làm thất bại mục đích của chính mình. Một số độc giả thích đọc theo kiểu nhấm nháp khi họ thật sự thích một cuốn tiểu thuyết nào đó.
Các nhà phê bình văn học đã tán thành hay phản đối cuốn sách này mà không hề nhận ra rằng những nguyên tắc chính được Aristotle áp dụng khi phân tích thơ phụ thuộc một phần vào những điều đã nêu trong một số tác phẩm khác, trong các luận thuyết về tâm lý, logic và siêu hình học của ông. Nếu không, có thể bạn sẽ không thừa nhận rằng đối phương cũng có quyền đưa ra những nhận định khác. Nếu không, bạn khó có thể đọc sách hiệu quả.
Vì thế, nếu bạn đã cố gắng đọc các tác phẩm khoa học kinh điển, bạn sẽ không gặp nhiều khó khăn khi đọc các tác phẩm này. Không ai có thể tách hoàn toàn bản thân ra khỏi tác phẩm của chính mình. Còn trong chương kết của cuốn sách On the Motion of the Heart (Vận động của trái tim), nhà sinh lý học William Harvey đã viết: Từ lý luận và thực nghiệm, có thể rút ra kết luận tâm thất co bóp đẩy máu qua phổi và tim rồi truyền đi khắp cơ thể.
Có thể bạn đã đọc sách lâu rồi, và việc phải học lại từ đầu khiến bạn thấy ngại. Với một cuốn tiểu thuyết, ta chỉ có thể biết câu chuyện đó là có thật trong thế giới của các nhân vật và sự kiện mà người viết đã tạo ra và tái tạo lại trong mỗi chúng ta. Một độc giả ít nhiều phải có kiến thức ngữ pháp.
Bạn dùng loại nào tuỳ thuộc vào cấp độ mà bạn đang đọc. Nhưng ngay cả chuyên gia cũng phải đợi tới khi đã hiểu rõ vấn đề mới lên tiếng phê bình. Một là các quy tắc đọc sách, phương pháp giúp bạn trở thành một độc giả đọc sách khôn ngoan; hai là những thứ bạn đọc.
Nghe là học từ một người thầy hiện hữu. Khi nắm vững nội dung cuốn sách, độc giả đã đưa mình lên ngang tầm với tác giả. Một cuốn bách khoa toàn thư sẽ không trung thực nếu có ý kiến riêng của các biên tập viên mà không được số đông hưởng ứng.
Sách tham khảo cũng phải được sử dụng một cách nghệ thuật. Ở đây, chung tôi đang nói đến những khó khăn phải đối mặt khi một độc giả không tin vào các tín điều của một tác phẩm thần học phải đối mặt. Họ trình bày thẳng thắn về các quan điểm triết học chứ không đưa ra các mâu thuẫn về ý kiến hay giả thuyết như của Platon.
Họ cho rằng, niềm tin vào bổn phận như một quan niệm đạo đức có giá trị là điều phi thực tế. Bây giờ chúng tôi sẽ đi sâu phân tích một phần nhỏ - phần thứ hai của Hiến pháp. Sử dụng ngữ cảnh là điều rất cần thiết để hiểu được ngôn từ và câu nhằm tìm ra các thuật ngữ và nhận định.
Bất đồng chỉ là sự chống đối vô nghĩa trừ phi người ta xem xét nó với hy vọng tìm ra giải pháp cho một vấn đề cụ thể. Chúng tôi sẽ giải thích nghịch lý này. Nếu bạn lập một danh sách gồm hai cột - một cột ghi các từ quan trọng và cột kia ghi các nghĩa quan trọng của những từ đó, bạn sẽ thấy mối liên hệ giữa từ vựng và thuật ngữ.
Sự ngu dốt của người có học đi theo sau kiến thức. Hơn thế, các bằng chứng đưa ra cũng phải tuân theo những quy định hết sức chặt chẽ. Chúng ta có thể nhanh chóng đoán định các đề tài được đề cập, loại sách và các tác giả được tham khảo.