Tất nhiên một cuốn bách khoa toàn thư vẫn được phép ghi lại ý kiến các nhân (ví dụ, trong một cụm từ như một số người cho rằng…, số khác lại thấy…) nhưng cần phải nói rõ ràng. Thứ nhất, độc giả phải hiểu cặn kẽ về tác phẩm trước khi đưa ra đánh giá phê bình. Một số độc giả thích đọc theo kiểu nhấm nháp khi họ thật sự thích một cuốn tiểu thuyết nào đó.
Nhưng cơ bản, có ba câu trả lời chính là: có, không, và chúng ta không thể biết được. Một câu ghép có thể nêu lên một số nhận định liên kết với nhau dưới dạng một lập luận. Tác phẩm này vô cùng khó đối với độc giả thời nay vì cơ bản nó không theo kiểu toán học khi trình bày dưới dạng đối thoại.
Chúng phải là giả thuyết hoặc kết luận. CUỐN SÁCH CÓ ĐÚNG KHÔNG, ĐÚNG MỘT PHẦN HAY TOÀN BỘ? Bạn không thể trả lời câu hỏi này nếu không trả lời hai câu trên. Nếu bạn muốn diễn đạt chính xác tính chỉnh thể của một cuốn sách (quy tắc 2), bạn phải chỉ rõ được những phần đã làm nên tính chỉnh thể ấy (quy tắc 3).
Ví dụ, bạn không thể tìm thấy nội dung bao quát của một bài thơ trữ tình trong bất kỳ câu thơ đơn lẻ nào. Phân tích cuộc thảo luận bằng cách sắp xếp các câu hỏi và vấn đề theo cách làm sáng tỏ nhất chủ đề. Chính kỹ năng đọc kiểm soát sẽ tạo ra lối đi tắt.
Loại phương tiện hỗ trợ đọc ngoài này đặc biệt cần khi đọc các tác phẩm lớn. Thật lý tưởng khi có những phóng viên, dù hoạt động trong lĩnh vực nào, cũng là tấm gương trong phản chiếu sự thật hoặc thông qua họ mà sự thật toả sáng. Thứ ba, hãy quan sát những điều tác giả buộc phải thừa nhận, những điều tác giả có thể chứng minh hoặc đưa ra bằng chứng cụ thể và những điều tác giả cho rằng không cần chứng minh vì chúng đã quá hiển nhiên.
Người nào nói anh ta biết mình nghĩ gì nhưng lại không thể thể hiện ra thường là người không biết mình nghĩ gì. Nói cách khác, tiêu đề sách có thể cung cấp cho độc giả những thông tin cần thiết về cuốn sách trước khi họ bắt đầu đọc nội dung. Trong bài thơ ngắn thứ 64, ông đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần:
Thế rồi, sau bao ngày lênh đênh trên biển, anh cũng tìm về được quê hương, tiếp tục vượt qua bao thử thách để những người thân yêu nhận ra anh đồng thời một mình chống lại những kẻ cầu hôn vợ anh và bảo vệ bản thân khi tiêu diệt lũ người đó. Tương tự, tác phẩm How We Think (Chúng ta nghĩ như thế nào) của Dewey cũng không phải là một sự phân tích hoàn chỉnh về quá trình suy nghĩ của con người. Nhưng đến thế kỷ 18, nhà triết học người Scotland David Hume hoàn toàn bỏ qua sự khác biệt giữa hình ảnh và ý tưởng dù nó đã được khẳng định trong các tác phẩm của những triết gia trước đó.
Những tác phẩm này thật sự vĩ đại vì chúng chứa đựng những suy nghĩ sâu sắc và phong phú nhất được con người thể hiện bằng ngôn từ. Họ có thể dùng phép ẩn dụ như là một chất liệu sáng tác. Đó là những điều có thể hoặc đã được kiểm chứng bởi các nhà quan sát khác, nhưng lại không thể kiểm chứng được bằng kinh nghiệm thường ngày của một người bình thường.
Để biết sự thật, ta phải đọc tất cả các thông cáo, hỏi những người từng ở đó và cố gắng nhận thức được vấn đề một cách sáng suốt từ mớ thông tin lộn xộn đó. Lời khuyên trên đặc biệt hữu ích với các bạn sinh viên, nhất là sinh viên sắp tốt nghiệp và làm nghiên cứu. Có lần chúng tôi xem một cuốn sách sử nói về cuộc nội chiến và thấy tác giả mô tả cuốn sách là tư liệu lịch sử công bằng và khách quan về cuộc nội chiến từ quan điểm của một người miền Nam.
Tác phẩm Ethics (Đạo đức) của ông được viết theo kiểu hoàn toàn toán học với những định đề, chứng minh, hệ quả, bổ đề, chú giải… Tuy nhiên, phong cách này không thể giải quyết ổn thoả chủ đề về siêu vật lý và đạo đức. Chúng tôi cũng đồng ý rằng rất khó để chuyển ngôn từ của người này sang ngôn từ của người khác nhưng cũng không phải là không thể làm được. Những gì trường tồn lại là những chuyên luận rất khó về một số chủ đề khác nhau.